Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

https://www.google.com.vnĐề bài: Ý nghĩa nhan đề “Chữ Người Tử Tù”.

Trên diễn đàn văn chương Việt Nam mỗi nhà văn khẳng định vị trí của mình bằng một phong cách riêng. Nếu Thạch Lam viết truyện không có cốt, không có mâu thuẫn, không kịch tính. Truyện của Thạch Lam như một bài thơ trữ tình viết bằng văn xuôi. Nếu Huy Cận, một nhà thơ luôn bị ám ảnh bởi bước đi của không gian. Không gian càng mênh mông, càng vô biên, rợn ngợp bao nhiêu thì tâm hồn của Huy Cận càng cô liêu, cô sầu bấy nhiêu. Nguyễn Tuân lại xuất hiện với một phong cách rất lạ. phong cách của Nguyễn Tuân được giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh gói gọn trong một chữ “ngông”. Xuất hiện lần đầu tiên trên tao đàn văn chương Việt Nam năm 1936 nhưng ngay từ những ngày đầu Nguyễn Tuân không có đủ độ chững chạc như các văn giới cùng thời. Phải đến năm 1940, nhà xuất bản Tân Dân ấn hành tập truyện “Vang Bóng Một Thời” lúc này Nguyễn Tuân mới có được vị trí đặc biệt trên diễn đàn văn chương Việt Nam. “Vang Bóng Một Thời” gồm 11 truyện ngắn mà ở đó có những tác phẩm không chỉ “vang bóng một thời” mà còn vang bóng đến tận ngày hôm nay. Ai đã từng đọc “Vang bóng một thời” dễ dàng nhận thấy linh hồn của tập truyện không gì khác chính là “Chữ người tử tù”. “Chữ người tử tù” được đưa vào trong chương trình giảng dạy được xem là một trong những kiệt tác của Nguyễn Tuân nói riêng và của văn học lãng mạn Việt Nam 1932-1945 nói chung. Truyện được Nguyễn Tuân tập trung ca ngợi hai chữ “Thiên Lương” trong sáng. Toàn bộ vẻ đẹp ấy được kết tinh ngay ở nhan đề của tác phẩm: “Chữ người tử tù”.
Có những người lặn lội với văn chương cũng chẳng để lại cho mình một áng văn hay, một bài thơ đẹp. Vì vậy khi người nghệ sĩ sáng tác ra được một đứa con tinh thần thì họ thường băn khoăn cho cách đặt nhan đề. Bởi nhan đề thường chứa đựng cả nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Nếu như trước cách mạng tháng Tám ta đã từng bắt gặp nhan đề “Tắt Đèn” của Ngô Tất Tố, khi ông viết về một xã hội tăm tối:
“Kiếp người cơm vãi cơm rơi
Biết đâu nẻo đất phương trời mà đi”
Ta cũng đã bắt gặp nhan đề được thay đổi nhiều lần đó là nhan đề “Đôi Mắt” của Nam Cao. Truyện ban đầu có tên là “Tiên sư anh tào tháo”, sau đổi thành nhan đề vừa ngắn gọn vừa xúc tích đó là “Đôi mắt”. “Đôi mắt” được Tô Hoài nhận định là: “Tuyên ngôn nghệ thuật cho các nhà văn cùng trang lứa với Nam Cao trong những buổi đầu đi theo cách mạng và kháng chiến”.
Rồi cũng có thể là nhan đề “Mảnh trăng cuối rừng” của Nguyễn Minh Châu. Truyện ban đầu có tên là “Mảnh trăng”, phải đến lần in thứ hai đưa vào trong tập “ Những vùng trời khác nhau” Nguyễn Minh Châu đã chắp thêm vào đó hai chữ “cuối rừng”. Người yêu văn nhận thấy đây là một nhan đề cần có cho một câu chuyện đẹp.
Trở lại với tác phẩm “Chữ người tử tù”. Truyện ban đầu có tên là “Những dòng chữ cuối cùng”. Nếu đặt nhan đề như vậy thì người yêu văn sẽ cảm thấy bi quan về số phận của một con người dường như sắp bị chém đầu. Và việc cho chữ của Huấn Cao chẳng khác nào việc để lại tài sản của người sắp chết cho người còn sống.
          Bằng sự nhạy cảm về nghệ thuật, Nguyễn Tuân đã đổi “Những dòng chữ cuối cùng” thành “Chữ người tử tù”. Với cách đặt nhan đề này không chỉ dừng lại ở việc ca ngợi cái tài, cái tâm của người nghệ sĩ viết chữ đẹp – Huấn Cao:
“Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”
Bên cạnh đó nhan đề còn thể hiện được ngòi bút sắc sảo của Nguyễn Tuân khi nhà văn lách sâu vào trong đáy tâm hồn của Huấn Cao để phát hiện ở đó một con người với cái “tâm” cao đẹp. Đó là cái “tâm” cần có của một người nghệ sĩ. Cái “tâm” đó không chỉ tồn tại trong con người Huấn Cao mà nó còn được thể hiện qua nhận vật Quản ngục – một con người phụng sự cái đẹp. Nếu xét trên bình diện của xã hội thì rõ ràng Huấn Cao và viên quản ngục ở hai vị thế khác nhau. Thế nhưng một khi đã yêu cái đẹp, đam mê cái đẹp thì con người ta có thể từ bỏ hết tất cả. Vì vậy ta thấy dường như Huấn Cao như một viên quản ngục còn ngược lại. Nhan đề “Chữ Người Tử Tù” chỉ có bốn âm tiết mà gợi cho người yêu văn nhiều điều. “Chữ” là nói đến phông kiến thức của một con người tài cao học rộng, còn “Người tử tù” là nói đến một người tù phạm tội đang chờ xét xử. “Chữ người tử tù” hé mở cho bạn đọc thấy à nhân vật trong câu chuyện này là một người tù, nhưng người tù ấy lại là một con người tài ba. Nhân vật ấy được xây dựng trên khuôn mẫu có thật đó là Cao Bá Quát, người cùng thời với Nguyễn Văn Siêu.
Người xưa có câu: “Văn như Siêu – Quát vô tiền Hán” có nghĩa là “Văn như ông Siêu ông Quát thời tiền Hán không có”.

Chỉ với bốn âm tiết thôi mà Nguyễn Tuân đã xây dựng được cả một nội dung đầy đủ của tác phẩm. Thông qua nhan đề cũng như nội dung câu chuyện Nguyễn Tuân xứng đáng là nhà văn của “chủ nghĩa duy mỹ”.

Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2013

Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn Tuân

Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân

Lần đầu tiên xuất hiện trên thi đàn văn chương Việt Nam năm 1936, nhưng Nguyễn Tuân không có được độ chững chạc như các văn giới cùng thời: Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng,… Mãi cho đến năm 1940, nhà xuất bản “Tân Dân” ấn hành tập truyện “Vang bóng một thời”. Lúc này, ông đã có vị trí vững chắc trên thi đàn văn chương. Nguyễn Tuân được các văn giới cùng thời mệnh danh là “nhà ngôn ngữ”, là “nhà xê dịch”,…thậm chí ông còn được mệnh danh là “người chẻ sợi tóc làm tư”. Ông khẳng định vị trí của mình bằng một phong cách rất lạ. Phong cách của Nguyễn Tuân được giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh gói gọn trong một chữ “ngông”. Điều gì đã giúp Nguyễn Tuân có được niềm vinh dự lớn lao đến vậy? Sự trăn trở của bạn đọc dần dần được sáng rõ khi chúng ta tiếp cận sự nghiệp sáng tác của ông.
Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân được chia làm 2 giai đoạn: trước và sau cách mạng.

1. Trước cách mạng
Trước cách mạng, Nguyễn Tuân là một nhà văn lãng mạn tiêu biểu nhưng ông lại không có chân trong nhóm “Tự Lực Văn Đoàn” với Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo và Thạch Lam. Thế có nghĩa là Nguyễn Tuân không thoát li với cuộc sống, không tô hồng bôi đen cuộc đời.
Trước cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân viết thành công ba đề tài chính sau đây:

a. Chủ nghĩa xê dịch
Ở đề tài chủ nghĩa xê dịch, Nguyễn Tuân bị ảnh hưởng của trào lưu văn học Phương Tây-văn học Pháp. Người mà Nguyễn Tuân chịu ảnh hưởng nhiều hơn cả đó là nhà văn Pháp A.Gide-người đi đầu chủ nghĩa xê dịch. “Xê dịch” hiểu nôm na là sự vận động. Người theo đề tài này thường viết về đường xá, xe cộ, sông nước và thác dữ. Người theo chủ nghĩa xê dịch thường thích đi đó đây để thay đổi thực đơn trong nhãn quan tâm hồn mình. Nguyễn Tuân đã đặt chân trên mọi miền đất nước hình chữ S thân yêu. Đi đến đâu ông cũng ghi lại cảnh đẹp thiên nhiên, con người Việt Nam. Điều này được thể hiện rõ qua hai tác phẩm: “Thiếu quê hương” và “Một chuyến đi”. Ai đã từng đọc 2 tác phẩm này của Nguyễn Tuân đẽ dàng nhận thấy một Nguyễn Tuân với tình yêu quê hương đất nước thầm kín mà sâu sắc. Đó là tình yêu giang sơn Tổ quốc của “một thời đại trong thi ca”, mà Chế Lan Viên đã từng viết:
“Nhân dân ở quanh ta mà sao chẳng thấy  
                                               Tổ quốc ở quanh mình mà có cũng như không”.
Còn Nguyễn Tuân thì viết:
“Sống giữa quê hương vẫn thấy mình thiếu quê hương”.
        b. Đề tài vang bóng
        Cũng như biết bao nghệ sĩ lãng mạn, họ chìm đắm trong vòng cái “tôi” cô đơn. Họ không tin tưởng vào hiện tại, hoài nghi cả tương lai, họ quay trở về với quá khứ còn vang bóng. Nguyễn Tuân không nằm ngoại lệ. Ông trở về với thú vui tao nhã của nho sĩ cuối mùa với nền Hán học bị suy tàn như thú thả thơ, chơi chữ trong tác phẩm “Dòng chữ cuối cùng” và được đổi tên thành “Chữ người tử tù”. Thú uống trà trong “ Những chiếc ấm đất”. Thú chém người của nhân vật Bát Lê trong “Bữa rượu máu”. Sở dĩ Nguyễn Tuân say sưa với những thú chơi của nho sĩ bởi ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống nho học ở làng Mọc, Nhân Chính. Cụ thân sinh của Nguyễn Tuân là cụ Tú Hải - người rất có ý thức con mình trên nếp gia phong đã bị suy tàn. Ngay từ thuở nhỏ, các bậc tao nhân mặc khách thường qua lại gia đình Nguyễn Tuân để đàm đạo văn chương với cha ông. Vì vậy Nguyễn Tuân đã bị ảnh hưởng bởi cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ, của Cao Bá Quát.
        Toàn bộ những thú chơi tao nhã được Nguyễn Tuân viết trong 11 truyện ngắn do nhà xuất bản Tân Dân ấn hành năm 1940 thành một tập truyện với nhan đề “Vang bóng một thời”. Ai đã từng đọc “Vang bóng một thời” lại thấy hiện lên chân dung của Nguyễn Tuân - một nhà văn cả đời theo chủ nghĩa duy mỹ, cả đời phụng sự cái đẹp, phụng sự hai chữ “thiên lương” trong sáng.

        c. Đề tài xa hoa trụy lạc
        Cũng như các nghệ sĩ lãng mạn đương thời đi đến tận cũng của nỗi buồn, Chế Lan Viên đã thanh rằng:
“Trời ơi! Chán nản đương vây phủ

Ý tưởng hồn tôi giữa cõi Tang”
Còn Xuân Diệu thì viết:
“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang

Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng”
         Lúc ấy, Nguyễn Tuân xa vào lối xa hoa trụy lạc. Nguyễn Tuân thường đi nghe hát ả Đào ở ngõ chợ Khâm Thiên. Nguyễn Tuân cũng hay ngồi bàn đèn để hút sách. Toàn bộ những thú chơi này được Nguyễn Tuân ghi lại trong tác phẩm “Chiếc ngư đồng mắt cua”. Ai đã từng đọc tác phẩm này lại thấy một Nguyễn Tuân hiện lên trung thực với chính lòng mình - một Nguyễn Tuân đầy bản lĩnh.

        Bên cạnh ba đề tài kể trên, Nguyễn Tuân còn viết về đề tài ma quái theo lối “Liêu trai chí dị” nhưng ông không thành công.

2. Sau cách mạng
        Cuộc cách mạng tháng Tám đã làm thay đổi thời đại. Nếu như đêm trước của cuộc cách mạng, người dân Việt Nam phải sống kiếp trâu ngựa, nô lệ thì sau cách mạng tháng Tám, họ đã đi vào cuộc kháng chiến của dân tộc để trở thành những anh hùng. Thời đại thay đổi, tư tưởng của người nghệ sĩ cũng đổi thay bởi Banzắc đã từng nói: “Nhà văn là thư ký trung thành của thời đại”.
        Nhận thức được điều này, Chế Lan Viên đã làm một cuộc hành trình: phá cô đơn để băng đến với đời. Còn Nguyễn Tuân – người đi đầu trong cuộc “lột xác” từ cái “tôi” cô đơn đến cái “ta” của cộng đồng. Nguyễn Tuân đã thay đổi quan điểm sáng tác của mình.. Nếu trước cách mạng tháng Tám ông đi tìm chủ nghĩa anh hùng của “một thời vang bóng” với những con người lớn lao, kỳ vĩ thì sau cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân đã tìm thấy chủ nghĩa anh hùng ở ngay trong đời sống nhân dân. Nghĩa là Nguyễn Tuân không còn tâm trạng:
“Sống giữa quê hương vẫn thấy mình thiếu quê hương”.
        Ông viết nhiều về anh bộ đội, chị dân quân, anh du kích. Đó là “chất vàng mười đã qua thử lửa” – nói như Nguyễn Tuân. Còn Nguyễn Minh Châu gọi chủ nghĩa anh hùng ấy là:
“Viên ngọc ẩn dấu trong chiều sâu tâm hồn của con người Việt Nam”.
        Sau cách mạng, Nguyễn Tuân góp mình vào thi đàn văn chương Việt Nam thể loại “tùy bút”. Đây là một thể loại rất “kén” nhà văn. Bởi người viết “tùy bút” cần phải có một phông kiến thức rộng, ngòi bút phải phóng khoáng, thoải mái. Câu văn “tùy bút” phải phóng túng, thoải mái, dài, ngắn, co, duỗi nhịp nhàng. Nếu ai đã từng đọc tập tùy bút “Sông Đà” hay bài ký “Người lái đò Sông Đà” – linh hồn của tập tùy bút “Sông Đà” của nhà văn Nguyễn Tuân thì dễ dàng nhận thấy: Nguyễn Tuân đã làm chủ kiến thức về quân sự khi mô tả những tướng đá bày ra những trùng vi thạch trận để lừa bất kỳ con thuyền nào qua đây. Ông làm chủ lĩnh vực điện ảnh khi ông đưa ra được nghệ thuật “Ngược sáng”. Ông làm chủ lĩnh vực địa lý khi ông mô tả tường tận, chính xác 50 trên tông 73 con thác dữ từ ngã ba biên giới Việt – Trung về tới Chợ Bờ.
        Hai thiên tùy bút tiêu biểu nhất cho sự nghiệp của Nguyễn Tuân: “Hà Nội đánh Mỹ giỏi” và “Tùy bút Sông Đà” – gồm 15 bài ký. Ngoài ra nhắc đến sự nghiệp của Nguyễn Tuân ta không thể bỏ qua được những bài phê bình của ông. Nguyễn Tuân viết nhiều về những bài phê bình và tiểu phê bình về: Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Tản Đà và nhất là các nhà văn hiện thực phê phán cùng thời với ông. Chẳng hạn khi đọc xong tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, mặc dù kết thúc tác phẩm là cảnh: 
“Buông tay chị vội choàng dậy, mở cửa chạy ra ngoài. Ngoài trời tối đen như mực, như tiền đồ của chị”.
 Vậy mà Nguyễn Tuân lại rất lạc quan khi viết trong bài tiểu luận phê bình của mình:
 “Tôi nhớ như đã có lần nào tôi gặp chị Dậu trong một đám đông đi phá kho thóc Nhật trong những ngày huyện kỳ khởi nghĩa, địch hậu o ép chị Dậu tải lương, đậy nắp hầm cho cán bộ, bộ đội cơ sở”.
        Nguyễn Tuân còn nhận thấy “sừng sững hiện lên trên cánh đồng lúa ngày xưa bức tranh chân dung của chị Dậu. Mặc dù bức tranh ấy thiếu đi ánh sáng của Đảng chiếu vào nhưng dù sao tôi vẫn thích bức tranh này”.


        Với tất cả sự nghiệp kể trên, Nguyễn Tuân xứng đáng là một nhà văn lớn trên thi đàn văn chương Việt Nam. Nhắc đến văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, mỗi người yêu văn không thể không nhắc đến bút danh “Tuấn thừa sắc” với một phong cách nghệ thuật đặc biệt – phong cách ấy gói gọn trong một chữ “ngông” – như lời của giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh.Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn Tuân

Thứ Hai, 31 tháng 12, 2012

Ý nghĩa nhan đề và lời đề từ bài thơ Tràng Giang của Huy Cận.


Đề: Ý nghĩa nhan đề và lời đề từ bài thơ Tràng Giang của Huy Cận.

      Trong bài thơ “Mai Sau” in trong tập thơ “Riêng chung” nhà thơ Huy Cận đã tự bạch lòng mình:
“Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm...
Nỗi nhớ thương không biết đã nguôi chưa?
Hay lòng chàng cứ tủi nắng, sầu mưa
Cùng đất nước mà lặng buồn sông núi?”.
      Thơ Huy Cận trước cách mạng rất buồn, vì vậy ông thường tìm đến thiên nhiên để:
“Vui chung vũ trụ nguôi sầu trần gian”.
Xuất hiện lần đầu tiên trên thi đàn văn chương Việt Nam năm 1940 với tập thơ “Lửa thiêng”. Khi tập thơ xuất hiện ta bắt gặp một giọng thơ buồn ảo não của:
“Một chiếc linh hồn nhỏ
Mang mang thiên cổ sầu”.
        Linh hồn của tập thơ “Lửa thiêng” chính là bài thơ “Tràng Giang”. Như cái tên của nó, bài thơ là một dòng sông dài. Đó là một dòng sông tâm trạng để Huy Cận gửi gắm cái “tôi” của một thời thơ mới. Đồng thời “Tràng Giang” là bài thơ thể hiện tình yêu quê hương đất nước một cách thầm kín trong tâm hồn Huy Cận nói riêng, của một thời đại thi ca nói chung. Nhờ đó mà Xuân Diệu nhận định: “Tràng Giang là bài thơ cuối cùng dọn lòng đến với giang sơn Tổ quốc”.
Toàn bộ vẻ đẹp ấy kết tinh ngay ở nhan đề cũng như lời đề từ của bài thơ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”.

       1. Nhan đề: Bài thơ hấp dẫn người đọc ngay từ nhan đề. Có những người suốt đời lặn lội với văn chương nhưng cũng chẳng để lại cho đời một áng văn hay, một bài thơ đẹp. Vì vậy, khi người nghệ sĩ sáng tác ra được một thi phẩm nghệ thuật, họ thường trăn trở băn khoăn cho cách đặt nhan đề. Nhan đề của một tác phẩm thường chứa đựng nội dung của nó. Viết về một xã hội tăm tối trước cách mạng, Ngô Tất Tố có tiêu thuyết “Tắt Đèn”. Để ca ngợi cái tâm của người nghệ sĩ, những nho sĩ cuối mùa nay vẫn còn vang bóng, Nguyễn Tuân có tác phẩm “Chữ người tử tù”,…Nhan đề của bài thơ là “Tràng Giang” cũng là một trong những dụng ý nghệ thuật của nhà thơ Huy Cận. “Tràng Giang” vốn là hai từ Hán Việt để chỉ dòng sông dài. Đó là dòng sông Hồng-dòng sông đã gợi ý gợi tứ để nhà thơ Huy Cận viết thành công bài thơ này. Dòng sông ấy vĩnh viễn thuộc về đất nước Việt Nam, nó có từ thuở khai thiên lập địa. Nó không chỉ dài về không gian địa lý mà còn dài về khoảng thời gian lịch sử. Trong bài thơ “Người đi tìm hình của nước”, Chế Lan Viên có viết:
“Sông Hồng chảy về đâu? Và lịch sử
Bao giờ dải Trường Sơn bừng giấc ngủ
Cánh tay thần Phù Đổng sẽ vươn mây”.
       Trong Tiếng Việt hiện hành có hai từ nhằm miêu tả chiều dài đó là từ “Tràng” và từ “Trường”. Ở đay nhà thơ Huy Cận không viết là “Tường Giang” mà lại viết là “Tràng Giang”. Như vậy đủ thấy sự tinh tế của Huy Cận khi sử dụng Tiếng Việt. Bởi chữ “Trường” chỉ đơn thuần là miêu tả chiều dài. Còn chữ “Tràng” với âm “vang” vốn là âm mở, nó không chỉ miêu tả chiều dài của dòng sông mà còn gợi lên chiều rộng của con sông. Đó là một con sông được vẽ lên với không gian ba chiều: sâu chót vót; rộng mênh mông; dài dằng dặc. Dòng sông càng mênh mông, càng vô biên, vô cùng bao nhiêu thì tâm hồn thi nhân càng cô liêu, cô sầu bấy nhiêu. Như vậy, bài thơ với nhan đề “Tràng Giang”đã phần nào bộc lộ được sở trường và phong cách thơ Huy Cận-một nhà thơ luôn bị ám ảnh bởi bước đi của không gian.


         2. Lời đề từ: Bìa thơ “Tràng Giang” có lời đề từ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”.
    Trong một số thi phẩm nghệ thuật, ta bắt gặp một số lời đề từ. Lời đề từ không phải là một thứ đồ trang sức làm đẹp da cho thi phẩm nghệ thuật. Trái lại lời đề từ là một xuất phát điểm, là một dụng ý nghệ thuật. Nó cung cấp cho người yêu thơ chiếc chìa khóa nghệ thuật để khám phá nội dung của thi phẩm. Có lời đề từ là những câu văn xuôi mà tác giả mượn lời của người khác. Ta nhớ tới lời đề từ của Nam Cao trong tác phẩm “Nước mắt” khi ông mượn lời của nhà văn Pháp Francois Coppée, ông viết:
“Người ta chỉ xấu xa hư hỏng trước đôi mắt ráo hoảnh của phường ích kỷ. Nước mắt là miếng kính biến hình vũ trụ”.
       Có lời đề từ là những câu văn vần của chính tác giả mà ta có thể kể đến lời đề từ của Chế Lan Viên trong bài thơ “Tiếng Hát Con Tàu”:
“Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hóa những con tàu
Khi Tổ Quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu?”.
        Lời đề từ còn cung cấp những thi liệu chính mà tác giả xây dựng trong bài thơ. Lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” đã gợi lên trước mắt người đọc hai thi liệu chính: đó là trời rộng và sông dài. Điều này được kết tinh trong hai câu thơ được xem là trung tâm của bài thơ “Tràng Giang”:
“Nắng xuống trời lên sâu chót vót
Sông dài trời rộng bến cô liêu”.
        Hai khổ thơ còn lại của bài thơ này. Nếu khổ ba tác giả vẽ lên hình ảnh dòng sông dài, mênh mông, dợn ngợp thì khổ thơ thứ tư tác giả lại vẽ lên hình ảnh bầu trời cao rộng.
Hơn nữa, lời đề từ còn thể hiện rõ âm điệu, xúc cảm của bài thơ. “Tràng Giang” là bài thơ có âm điệu buồn. Đó là nỗi sầu vạn kỉ thấm sâu vào trong mạch cảm xúc của bài thơ này mà Lê Di viết:
“Là Tràng Giang khổ nào cũng dập dềnh sóng nướcLà Huy Cận khổ nào cũng lặng lẽ u sầu”.
      Đồng thời lời đề từ còn thể hiện tình yêu quê hương đất nước thầm kín trong tâm hồn Huy Cận nói riêng, của một thời đại trong thi ca nói chung. Đó là những con người:
“Sống giữa giữa quê hương mà vẫn thấy mình thiếu quê hương” (nói như Nguyễn Tuân).
Còn Chế Lan Viên viết:
“Nhân dân ở quanh ta mà sao chẳng thấyTổ quốc ở quanh mình mà có cũng như không”.
          Nên chăng ta mượn lại lời nhận định của Hoài Thanh, Hoài Chân trong “Một thời đại trong thi ca” để kết thúc bài viết của mình:
“Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi, mất bề rộng ta đi tìm bề sâu, nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng lại tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”. 

Chủ Nhật, 30 tháng 12, 2012

Sự nghiệp sáng tác của Hồ Chí Minh

Đề: Sự nghiệp sáng tác của Hồ Chí Minh

         Trong bài "Khai quyển" của tập "Ngục Trung Nhật Ký", Nguyễn Ái Quốc có viết:
"Ngâm thơ ta vốn không ham

Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây
Ngày dài ngâm ngợi cho khuây
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do".
            Rõ ràng sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh chưa bao giờ nhận mình là nhà thơ. Bởi Người hiểu hơn ai hết câu nói của Viên Tử Tài: "Lập thân tối hạ thị văn chương".
Năm 1946, khi trả lời phóng viên báo chí về sở thích của mình, Bác nói:
"Suốt đời tôi chỉ có một ham muốn tột bậc, ham muốn tột bậc của tôi là đất nước ta được độc lập, dân tộc ta được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành".
          Thế là Bác đã hi sinh toàn tâm toàn ý cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trên con đường đi tìm tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân, Bác nhận thấy văn chương là thứ vũ khí sắc bén để hoạt động, để tuyên truyền cách mạng. Bác đến với văn chương cũng vì mục đích này. Do vậy bên cạnh sự nghiệp chính trị, Hồ Chí Minh đã để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ, nên chăng ta nhìn sự nghiệp sáng tác của Người theo những mốc thời gian sau:

        1. Những sáng tác ở Paris (1921-1923)
Các tác phẩm chính: "Vi hành"; vở kịch "Con rồng tre"; "Lời than vãn của Bà Trưng Trắc"; "Những trò lố hay Varen và Phan Bội Châu"; "Bản án chế độ thực dân Pháp".
Cần phải khẳng định khi viết những tác phẩm này Bác đã đứng trên lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin, vì vậy đích chính trị đã bay xa và trúng đích.

          2. Những tác phẩm sáng tác ở Liên Xô (1923-1925)
Tháng 11 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc từ Paris về Matxcơva để tham dự hội nghị quốc tế nông dân lần thứ nhất. Thời gian này Người viết nhiều bài báo. Tập hợp những bài báo này in thành tập "Nhật ký chìm tàu".

        3. Những tác phẩm sáng tác ở Quảng Châu-Trung Quốc (1925-1927)
Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô trở về Quảng Châu-Trung Quốc gặp "Tâm Tâm Xã" và cải tổ thành "Việt Nam cách mạng đồng chí hội". Người tổ chứ lớp kiêm phiên dịch và giảng dạy những tư tưởng về học thuyết Mác-Lênin. Toàn bộ những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc được in thành tập "Đường Kách Mệnh".

          4. Mùa thu 1942-1943
14 tháng sống trong nhà ngục Tưởng Giới Thạch, Nguyễn Ái Quốc đã sáng tác 135 bài thơ (kể cả hai bản bổ sung) được in thành tập "Ngục Trung Nhật Ký". Đây là viên ngọc sáng giá trong kho tàng văn học Việt Nam. Tập thơ này làm toát lên bức chân dung của người tù tự do.

         5. Những sáng tác của Bác 1945-1946
Giai đoạn này, Bác sán tác hai bản văn chương chính luận nổi tiếng là tác phẩm "Tuyên Ngôn Độc Lập" (1945) và "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" (1946).

         6. Chùm thơ kháng chiến viết lại Chiến khu Việt Bắc (1944-1948)
Với những bài thơ tiêu biểu như:
- Cảnh Khuya
- Đi thuyền trên sông Đáy
- Nguyên Tiêu (Rằm tháng giêng)
- Cảnh rừng Việt Bắc
- Báo tiệp (tin thắng trận)

          7. Chùm thơ chúc Tết và Di chúc
Sự nghiệp sáng tác của Hồ Chí Minh phong phú và đa dạng với nhiều thể loại, nhiều ngôn ngữ. Có khi Người viết bằng tiếng Pháp, tiếng Hán, tiếng Nga... Những thể loại tiêu biểu:
- Văn chính luận: phải kể đến "Bản án chế độ thực dân Pháp"; "Tuyên Ngôn Độc Lập"; "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến".
- Thơ: Ngục Trung Nhật ký; 86 bài thơ kháng chiến.
- Kịch: Con rồng tre.
Với tất cả sự nghiệp sáng tác kể trên, Hồ Chí Minh thực sự là một nhà văn hóa lớn, "một nhà văn của nhận loại" - nói như nhà văn Pháp Muydenstande.

Quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh

Đề: Quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh

      Trong bài thơ "Khai Quyển" của tập "Ngục Trung Nhật Ký", Nguyễn Ái Quốc có viết: 
"Ngâm thơ ta vốn không ham

Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây?
Ngày dài ngâm ngợi cho khuây
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do".
          Rõ ràng sinh thời, Hồ Chí Minh chưa bao giờ nhận mình là nhà thơ. Bởi Người hiểu hơn ai hết câu nói của Viên Tử Tài: "Lập thân tối hạ thị văn chương".
Năm 1946, khi trả lời phóng viên báo chí về sở thích của mình, Bác nói:
"Suốt đời tôi chỉ có một ham muốn tột bậc, ham muốn tột bậc của tôi đó là đất nước ta được độc lập, dân tộc ta được tư do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành".
      Thế là Bác đã hi sinh toàn tâm toàn ý cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trên con đường đi tìm tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân, Bác nhận thấy văn chương là thứ vũ khí sắc bén để hành động, để tuyên truyền cách mạng. Bác đến với văn chương vì mục đích này. Do vậy, bên cạnh sự nghiệp chính trị, Hồ Chí Minh đã để lại một sự nghiệp văn học đồ sộ cùng với những quan điểm nghệ thuật có thể làm tuyên ngôn đối với người cầm bút viết văn chân chính.
Hiểu nôm na quan điểm là cách tiếp cận, là lập trường của một người cầm bút viết văn chân chính. Nhắc đến quan điểm nghệ thuật là nhắc đến quan điểm của một người nghệ sĩ lớn có tầm ảnh hưởng đối với sự phát triển của một giai đoạn, ví như những quan điểm của Nguyễn Tuân, Tố Hữu, Nam Cao,... Trong quá trình sáng tác Bác đã để lại nhiều quan điểm sáng tác của mình. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, ta không thể bỏ qua ba quan điểm chính sau đây:

       Quan điểm thứ nhất: Bác coi hoạt động sáng tác là nhiệm vụ cách mạng. Bác từng quan niệm người nghệ sĩ đồng thời cũng phải là người chiến sĩ trên mặt trận văn chương. Quan điểm này được thể hiện rõ trong bài "Cảm tưởng đọc thiên gia thi". Ở đó, Bác phê phán thơ cổ trung đại:
"Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp
Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông".

Đồng thời Người lại khẳng định với thơ ca hiện đại rằng:

"Nay ở trong thơ nên có thépNhà thơ cũng phải biết xung phong".
        Cần phải khẳng định "thép" trong câu thơ này chính là tinh thần chiến đấu của người chiến sĩ cộng sản, là lòng yêu nước già dặn, mãnh liệt, sôi nổi của một con người. Ta cần thấy quan điển này được thể hiện trong "Thư gửi các họa sĩ" nhân triển lãm tranh toàn quốc lần thứ nhất tại miền Bắc năm 1951, Bác viết:
"Văn hóa nghệ thuật là một mặt trận, anh chị em là một chiến sĩ trên mặt trận ấy".
     Nếu đặt quan điểm này của Hồ Chí Minh trong dòng chảy của nền văn học nước nhà thì dễ dàng nhận thấy đó là sự đồng điệu với Nguyễn Đình Chiểu khi ông khẳng định:
"Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm máy thằng gian bút chẳng tà".

Sau này nhà thơ Sóng Hồng - tức Trường Chinh đã tiếp nối quan điểm này: 
"Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ
Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền".

        Quan điểm thứ hai: Đề cao đối tượng thưởng thức. Trong quá trình sáng tác Hồ Chí Minh luôn đề cao đến đối tượng thưởng thức. Chính đối tượng đã chi phối nội dung, phong cách và mục đích sáng tác. Đọc xong sự nghiệp sáng tác của Hồ Chí Minh có người cho rằng: 
"Bác viết không đều tay. Có những tác phẩm đơn giản, mộc mạc như lời nói thường, nhưng lại có những tác phẩm sâu sắc. lập luận ngang tầm quốc tế".
Trả lời cho vấn đề này trong cuốn "Vừa đi đường vừa kể chuyện" tác giả T.Lan có viết:
 - Đối với ngươi cầm bút viết văn chân chính, trước khi cầm bút phải trả lời được những câu hỏi:
Viết cho ai? (đối tượng viết)

Viết cái gì? (nội dung viết)
Viết như thế nào? (phương pháp viết)
Viết để làm gì? (mục đích viết)
Nếu viết cho đồng bào ta nghe-những người dân không biết chữ, họ hiểu được để đi làm cách mạng thì phải viết chắc chắn như 2+2=4. Chẳng hạn để kêu gọi tinh thần đoàn kết của dân tộc, Bác viết:
"Hòn đá to, hòn đá nặng
Một người nhấc, nhấc không đặng
Biết đồng sức, biết đồng lòng
Việc gì khó cũng làm xong".
       Nếu đối tượng thưởng thức là công luận quốc tế, Bác viết với mục đích phanh phui những chiêu bài lừa bịp của thực dân Pháp. Người lập luận chặt chẽ, lời văn uyên bác, sắc sảo với những tác phẩm: Vi hành, Lời than vãn của Bà Trưng Trắc, Bản án chế độ thực dân Pháp, Tuyên ngôn độc lập,...

           Quan điểm cuối cùng: Đề cao tính chân thực. Trong sáng tác, Bác luôn đề cao tính chân thực trong văn chương, nghệ thuật. Đây cũng là quan điểm của người nghệ sĩ lớn mà ta phải kể đến nhà văn Balzac đã từng nói:
"Nhà văn là thư ký trung thành của thời đại, tác phẩm của anh là tâm gương xê dịch trên quãng đường đời".
Ta cảm thấy quan điểm này thể hiện rất rõ ở nhà văn Nam Cao trong tuyên ngôn "Trăng Sáng" - 1943:
"Chao ôi! Nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ thoát ra từ những kiếp lầm than".
Đối với Bác, trong một bài phát biểu với những nhà văn trong giai đoạn mới, Người nói:
"Chất mơ mộng còn nhiều, chất chân thực còn ít. Vì vậy, nhà văn phải viết cho hay, cho hào hứng, cho chân thực, viết nhiều về gương người tốt việc tốt, bảo vệ sự trong sáng của Tiếng Việt, tính dân tộc trong văn chương".
           Với tất cả quan điểm sáng tác kể trên, Hò Chí Minh xứng đáng là "Một nhà văn của nhân loại"-nói như Mydenstande-một nhà văn Pháp.

Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2012

Quan điểm sáng tác của nhà văn Nam Cao trước cách mạng tháng 8

Đề: Quan điểm sáng tác của nhà văn Nam Cao trước cách mạng tháng 8.

      Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri. Ông sinh năm 1915 mất năm 1951. Quê ông ở tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân nay là tỉnh Hà Nam. Bút danh của Nam Cao được ghép từ chữ đầu của tên huyện với chữ đầu của tên tổng có chữ Nam chữ Cao gọi là Nam Cao. Đây là mảnh đất quanh năm nghèo đói. Chính điều này đã ảnh hưởng đến cách viết văn của Nam Cao. Ông viết nhiều về cái đói xảy ra quanh mình. Cái đói làm tha hóa con người, làm xói mòn tình người. Điều này thể hiện rất rõ trong những tác phẩm như: Chí Phèo, Lão Hạc, Một bữa no,Trẻ con không được ăn thịt chó,...
     
      Nam Cao sinh ra trong một ra đình theo công giáo. Người công giáo có lệ sáng ra là xá tội. Vì vậy cứ mỗi lần viết văn Nam Cao lại mang mình ra để mổ xẻ, để phân tích. Các nhan vật trí thức của Nam Cao như: Điền trong "Trăng Sáng", Hộ trong "Đời Thừa",...Tất cả đều là sự hóa thân cần thiết của một con người, đó chính là Nam Cao. Bởi thế mà Nguyễn Minh Châu đã từng nhận xét:
"Nam Cao là một người tự nguyện nộp mạng mình cho văn chương" 
      Bởi một nhà văn muốn viết cho nhân đạo thì trước hét phải sống cho nhân đạo. Cuộc đời là gốc, văn chương là ngọn. Và chính cuộc đời quyết định đến văn chương.
Bén duyên với văn chương từ năm 1936. Nhưng ngay từ khi bước vào nghề Nam Cao chọn cho mình trào lưu văn học lãng mạn. Bốn năm trời gắn kết với nó, Nam Cao không cho ra đời một đứa con tinh thần nào. Đến năm 1940, Nam Cao đã từ bỏ dòng văn học hiện thực phê phán mà ta phải kể đến những tác phẩm như: Chí Phèo, Lão Hạc, Dì Hảo, Một bữa no, Trăng sáng, Đời thừa,...Cùng với đó là quan điểm sáng tác của Nam Cao cũng có sự khác biệt.
Trước tiên ta cần hiểu quan điểm sáng tác là lập trường, cách tiếp cận của nhà văn về việc cầm bút sáng tác.
Trong quá trình sáng tác, Nam Cao đã để lại nhiều quan điểm sáng tác. Những quan điểm của ông được coi là tuyên ngôn của những người cầm bút viết văn chân chính. Tuy nhiên trong phạm vi bài viết này, người viết sẽ đề cập đến ba quan điểm chính trong sự nghiệp sáng tác của Nam Cao:

           Quan điểm thứ nhất: Nam Cao đề cập tính sáng tạo trong văn chương. Ông không chấp nhận lối văn xáo mòn chỉ đi theo con đường cũ kĩ. Theo ông một nhà văn phải xông pha trên con đường mới, phải: "uống nước nã, gặm bánh mì" để lao động cực nhọc trên trang viết. Quan điểm này được thể hiện rõ trong tác phẩm "Đời Thừa" qua tuyên ngôn của văn sĩ Hộ:
"Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay chỉ biết làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có". 
         Quan điểm thứ hai: Cũng như những nhà văn khác, Nam Cao luôn coi trọng tính chân thực trong một tác phẩm văn học bởi lẽ:
"Văn chương và cuộc đời là những vòng tròn đồng tâm với nhau. Tâm của nó chính là cuộc sống của con người" - nói như Nguyễn Minh Châu.
Nhà văn Balzac đã từng viết:
"Nhà văn là thư kí trung thành của thời đại, tác phẩm của anh là tấm gương xê dịch trên quãng đường đời". 

Quan điểm này được Nam Cao thể hiện rất rõ trong tuyên ngôn "Trăng Sáng" thông qua nhân vật Điền:
"Chao ôi! Nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than".
            Quan điểm cuối cùng: Theo Nam Cao là một tác phẩm văn học chân chính phải là tác phẩm thấm đẫm tình nhân đạo:
"Tác phẩm ấy phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng một cái gì đó vừa lớn lao, vừa mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi, nó ca tụng tình thương, lòng bác ái, sự công bình, nó làm cho người gần người hơn" (Đời Thừa).
Muốn đạt được điều này nhà văn phải:
 "Đứng trong đau khổ để mở lòng ra đón những tiếng vang động của cuộc đời".

         Với ba quan điểm trên, Nam Cao xứng đáng là thư kí trung thành của thời đại, là một nhà văn hiện thực phê phán xuất sắc, là cánh tay đắc lực cho trường phái "nghệ thuật vị nhân sinh" trong cuộc tranh luận với trường phái "nghệ thuật vị nghệ thuật".
Đề: Hoàn cảnh sáng tác bài "Người Lái Đò Sông Đà"


         Người Lái Đò Sông Đà nói riêng cũng như tập tùy bút Sông Đà nói chung là kết quả chuyến đi thực tế của nhà văn Nguyễn Tuân lên mảnh đất Tây Bắc vào những năm 1958-1960. Đây là thời kỳ miền Bắc sau ngày giải phóng đang tiến lên chủ nghĩa xã hội. Theo tiếng gọi của Đảng miền Bắc đang đấy lên phong trào tình nguyện đến những vùng xa xôi của Tổ quốc để khôi phục kinh tế và hàn gắn vết thương chiến tranh. Họ trở lại nhiều hơn cả những nơi xưa vốn là chiến trường. Tây Bắc-Điện Biên được xem là "một miền đất hứa" (ý thơ Chế Lan Viên), hàng loạt những con người mới xã hội chủ nghĩa nô nức đến miền Tây của Tổ quốc. Họ ra đi đầy ắp những tiếng hát, đầy sông, đầy cầu mà nhà thơ Bùi Minh Quốc viết:
"Ôi miền Tây, ở dưới xuôi sao nghe nói ngại ngùng
Mà lúc ra đi lửa trong lòng vẫn cháy
Tuổi hai mươi khi hứng đời đã thấy
Thì xa xôi biết mấy cũng lên đường
Sống ở thủ đô mà dạ để mười phương
Nghìn khát vọng chất chồng mơ ước lớn..."
(Lên Miền Tây)
      Họ ra đi trong bối cảnh: "Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng" (thơ Chế Lan Viên). Còn Tố Hữu trong bài thơ "Ta Đi Tới" có viết:
"Đẹp vô cùng, Tổ quốc ta ơi!Rừng cọ đồi chè đồng xanh ngào ngạtNắng chói Sông Lô, hò ô tiếng hátChuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca..." 
                                                          (Ta Đi Tới)
       Vâng! Sự thật của cuộc sống đã bước vào trong văn chương như một qui luật tất yếu bởi Balzac đã từng nói:
 "Nhà văn là thư ký trung thành của thời đại. Tác phẩm của anh là tấm gương xê dịch trên quãng đương đời"
Cùng với hình ảnh của những con người mới-những bông hoa đẹp trong vườn hoa xã hội chủ nghĩa lên Tây Bắc để khôi phục kinh tế là những nghệ sĩ lãng mạn đã từng ngủ sâu trong giường chiếu hẹp:
"Lũ chúng con ngủ trong giường chiếu hẹpGiấc mơ con đè nát cuộc đời conHạnh phúc đựng trong một tà áo đẹpMột mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn..." 
                                      (Chế Lan Viên-Người Đi Tìm Hình Của Nước)

          Họ lên trên đó để khai phá hồn thơ. Vì cũng chính Chế Lan Viên viết: "chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép/Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia" (Tiếng Hát Con Tàu). Nếu nhà văn Tô Hoài lên Tây Bắc với tập "truyện Tây Bắc"; Nguyễn Huy Tưởng lên viết tác phẩm "Bốn Năm Sau"; Nguyễn Khải lên viết tập truyện "Mùa Lạc"; còn Chế Lan Viên ngược dòng xuối tâm hồn của mình lên Tây Bắc viết "Tiếng Hát Con Tàu"-linh hồn của "Ánh Sáng và Phù Sa". Thì Nguyễn Tuân đi đầu trong cuộc "lột xác", từ "cái tôi cô đơn đến cái ta của cộng đồng"; từ "thung lũng đau thương ra cánh đồng vui" (Chế Lan Viên); hay nói như nhà văn Pháp P.Eluard "đi từ chân trời của một người đến chân trời của tất cả".
            Như vậy, rõ ràng đến với Tây Bắc là đến với cội nguồn của thơ ca nghệ thuật vì "Tây Bắc ơi người là mẹ của hồn thơ". Chính đến với mẹ của hồn thơ ca như đứa trẻ thơ đói lòng gặp ngay bầu sữa nóng. Nguyễn Tuân đã viết 15 tác phẩm là 15 bài ký được in thành tập tùy bút với nhan đề "Sông Đà". Và "Người Lái Đò Sông Đà" ra đời trong hoàn cảnh đó.
Hoàn cảnh sáng tác bài " Người Lái Đò Sông Đà"
http://duongconnguyen.blogspot.com/